Nông nghiệp tuần hoàn phía Bắc: Những con số biết nói và chiến lược phủ rộng năm 2026
Hơn 5.000 nông dân tại 7 tỉnh phía Bắc đã được đào tạo và chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp hữu cơ tuần hoàn trong năm 2025, đánh dấu bước chuyển mình từ canh tác truyền thống sang phát triển bền vững.
Ngày 9/1/2026, tại Phú Thọ, Ban Đầu tư Phát triển kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) tuần hoàn liên kết chuỗi giá trị Quế Lâm miền Bắc đã tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Hội nghị có sự tham dự và chủ trì của ông Nguyễn Hồng Lam – Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Ủy viên Ban Thường trực Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội NNTH Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Quế Lâm, nhà khoa học của nhà nông; ông Khắc Ngọc Bá – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Quế Lâm cùng các lãnh đạo, chuyên gia và thành viên trong hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn khu vực phía Bắc.
Chuyển dịch từ nhận thức đến hành động
Theo báo cáo, năm 2025 được đánh giá là thời điểm then chốt trong công tác tuyên truyền và thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì tập trung vào các hoạt động thương mại đơn thuần như quảng bá và bán phân bón, các đơn vị thành viên đã chuyển hướng sang phát triển chiều sâu theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
Sự thay đổi này bám sát các quyết sách vĩ mô của Chính phủ, bao gồm Quyết định số 885 về Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030 và Quyết định số 687 về Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Khái niệm nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu mà đã đi vào thực tiễn sản xuất.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực được xác định là khâu đột phá. Trong năm qua, đơn vị đã tổ chức 50 lớp tập huấn tại 7 tỉnh, thu hút 5.072 nông dân từ 51 xã tham gia. Các khóa đào tạo được đa dạng hóa dưới ba hình thức gồm tập huấn tập trung tại công ty, đào tạo tại địa phương và hướng dẫn thực hành trực tiếp ngay tại các mô hình điểm. Phương pháp “cầm tay chỉ việc” giúp người nông dân được quan sát, trao đổi và kiểm chứng chất lượng sản phẩm thực tế, từ đó tự tin chuyển đổi từ canh tác vô cơ sang hữu cơ, từ chăn nuôi công nghiệp sang an toàn sinh học.

Hiệu quả thực tế và điểm nghẽn hạ tầng
Kết quả của quá trình thay đổi tư duy là sự hình thành hệ thống các mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị. Về trồng trọt, năm 2025 khu vực phía Bắc đã duy trì và phát triển 20 mô hình tại 6 tỉnh thành với tổng diện tích 53,65 ha, bao gồm 17 loại cây trồng khác nhau. Nhiều mô hình tiêu biểu đã khẳng định được chất lượng như lúa Séng Cù (Lào Cai), vải U Trứng (Hưng Yên), cam lòng vàng (Phú Thọ) hay mận hậu (Sơn La).
Đối với lĩnh vực chăn nuôi, 7 hộ chăn nuôi lợn an toàn sinh học đang duy trì tổng đàn 454 con lợn thịt và 27 lợn nái. Các mô hình khác như gà ri, gà đen, bò vàng và nuôi ruồi lính đen làm thức ăn chăn nuôi cũng đang được vận hành ổn định.
Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi tại miền Bắc vẫn còn khiêm tốn so với khu vực miền Trung. Nguyên nhân chính được xác định là do điểm nghẽn trong khâu giết mổ và phân phối. Việc chưa tổ chức được hệ thống giết mổ và bán lẻ hợp lý khiến đầu ra chưa thông suốt, buộc các mô hình chăn nuôi phải duy trì ở mức độ an toàn, chưa dám mở rộng quy mô lớn.

Mục tiêu phổ cập nông nghiệp tử tế năm 2026
Bước sang năm 2026, chiến lược của Quế Lâm miền Bắc tập trung vào việc đưa kỹ thuật nông nghiệp hữu cơ về cơ sở. Đơn vị đặt mục tiêu ký kết hợp tác với 1-2 đơn vị cấp tỉnh và 10-12 đơn vị cấp xã, phường. Công tác truyền thông sẽ đi sâu vào từng địa phương, lấy nông dân trực tiếp sản xuất và người tiêu dùng làm trung tâm.
Về đào tạo, đơn vị dự kiến tổ chức 3 khóa chuyên sâu với quy mô 50-70 học viên mỗi khóa, kéo dài 3-5 ngày. Những hạt nhân xuất sắc sẽ được chọn cử đi đào tạo nâng cao tại tổ hợp 4F ở Thừa Thiên Huế.
Hệ thống mô hình sản xuất cũng sẽ được mở rộng có trọng điểm. Trong lĩnh vực chăn nuôi, kế hoạch năm 2026 sẽ phát triển thêm 3-4 mô hình nuôi lợn, ưu tiên tại xã Xuân Lãng (Phú Thọ) và phấn đấu xây dựng một cửa hàng thực phẩm hữu cơ tại đây để giải quyết bài toán đầu ra. Đối với trồng trọt, ba mô hình đặc sản mới sẽ được triển khai gồm lúa nếp bản địa Pi Pết (Cao Bằng – Bắc Kạn), táo đại Lài Đoan (Bắc Ninh) và bưởi Sửu (Phú Thọ).



















